Trong bối cảnh các quy định về bảo vệ môi trường đối với lĩnh vực y tế ngày càng được tăng cường, việc xử lý nước thải phát sinh tại các bệnh viện giữ vai trò đặc biệt quan trọng nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường xung quanh. Nước thải y tế với đặc thù chứa nhiều vi sinh, chất hữu cơ và thành phần ô nhiễm đặc trưng đòi hỏi phải được xử lý theo quy trình nghiêm ngặt. Trên cơ sở đó, dự án hệ thống xử lý nước thải y tế tại Bệnh viện Đa khoa Đắk Nông được đầu tư với công suất 700 m³/ngày.đêm, đảm bảo nước thải sau xử lý đạt QCVN 28:2010/BTNMT trước khi xả ra môi trường.

Dự án xử lý nước thải Bệnh viện Đa khoa Đắk Nông được đầu tư với công suất 700 m³/ngày.đêm
Bệnh viện Đa khoa Đắk Nông là cơ sở y tế quan trọng trên địa bàn khu vực Tây Nguyên, đảm nhiệm chức năng khám, điều trị và chăm sóc sức khỏe cho người dân trong tỉnh và các khu vực lân cận. Với quy mô hoạt động lớn và mật độ bệnh nhân cao, bệnh viện phát sinh lượng nước thải y tế đáng kể từ các khoa khám bệnh, điều trị nội trú, xét nghiệm, phẫu thuật và sinh hoạt. Việc đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, đặc biệt là hệ thống xử lý nước thải, được xem là yêu cầu bắt buộc nhằm đảm bảo điều kiện vệ sinh môi trường, an toàn y tế và tuân thủ các quy định quản lý hiện hành.
Hệ thống xử lý nước thải y tế của Bệnh viện Đa khoa Đắk Nông do Công ty TNHH Giải pháp Môi trường Đại Nam đảm nhận vai trò nhà thầu, được thiết kế với công suất 700 m³/ngày.đêm, đáp ứng nhu cầu xử lý toàn bộ lượng nước thải phát sinh trong quá trình vận hành bệnh viện. Hệ thống được xây dựng phù hợp với đặc thù nước thải y tế, tập trung xử lý hiệu quả các chất hữu cơ, vi sinh gây bệnh và các thành phần ô nhiễm đặc trưng. Nước thải sau xử lý đạt quy chuẩn môi trường theo quy định trước khi xả ra môi trường, góp phần bảo vệ hệ sinh thái xung quanh và đảm bảo hoạt động khám chữa bệnh diễn ra an toàn, bền vững.
Trước khi vào bể, nước thải được đưa qua thiết bị lược rác thô nhằm loại bỏ các cặn rác có kích thước lớn tránh gây nghẹt bơm, tắc nghẽn đường ống,… cho các công trình phía sau. Nước thải sau bể thu gom sẽ được bơm đến bể tách dầu mỡ.
Trước khi vào bể, nước thải được đưa qua máy tách rác tinh nhằm loại bỏ các cặn rác có kích thước từ 2-5mm tránh gây nghẹt bơm, tắc nghẽn đường ống,… cho các công trình phía sau.
Đặc tính nước thải sinh hoạt thường chứa một lượng dầu mỡ nhất định, để đảm bảo nước thải sau xử lý đạt QCVN 28:2010/BTNMT, cột A thì cần loại bỏ lượng dầu mỡ này ra khỏi nước thải. Bể tách dầu được thiết kế 3 ngăn và hoạt động theo nguyên tắc trọng lực, do tỉ trọng nhỏ hơn nước nên dầu nổi lên trên bề mặt bể và tách ra khỏi nước thải. Nước thải sau khi tách dầu tự chảy qua bể điều hòa. Dầu thải cùng với rác định kỳ được thu gom bởi đơn vị có chức năng.

Hệ thống xử lý nước thải y tế tại Bệnh viện Đa khoa Đắk Nông
Bể điều hòa được thiết kế với thời gian lưu đủ lớn để điều hòa về lưu lượng và nồng độ các thành phần ô nhiễm có trong nước thải.
Một số ưu điểm của việc thiết kế bể điều hòa cụ thể như sau:
- Lưu trữ nước thải phát sinh vào những giờ cao điểm và phân phối đều cho các bể xử lý phía sau;
- Kiểm soát các dòng nước thải có nồng độ ô nhiễm cao;
- Tránh gây quá tải cho các quá trình xử lý phía sau;
- Có vai trò là bể chứa nước thải khi hệ thống dừng lại để sửa chữa hay bảo trì.
- Phân hủy một phần chất rắn trước khi vào cụm sinh học.
Nước thải sau đó được đưa vào bể kỵ khí. Tại đây diễn ra quá trình phân hủy yếm khí, vi sinh vật lên men và phân hủy các chất hữu cơ trong nước thải tạo thành các khí CO2, CH4, H2S, …, các tạp chất rắn không tan và lượng sinh khối sẽ được giữ lại trong bể. Việc bố trí máy khuấy chìm tại bể giúp xáo trộn nước và bùn trong bể, tăng khả năng tiếp xúc và hiệu quả xử lý. Nước thải được dẫn vào bể Anoxic.
Tại bể Anoxic, diễn ra quá trình khử nitrat, nitrit giải phóng khí Nitơ ra môi trường. Nước thải giàu nitrat, nitrit sẽ được bổ sung vào bể nhờ có dòng tuần hoàn nước từ bể sinh học phía sau, bùn hoạt tính cũng được tuần hoàn từ bể lắng sinh học để bổ sung bùn đầy đủ trong quá trình xử lý nước thải.
Bể hiếu khí MBBR là bể xử lý sinh học bằng bùn hoạt tính hiếu khí trên các giá thể dạng khối. Vi sinh dính bám trên giá thể có chức năng xử lý hoàn thiện các hợp chất hữu cơ trong nước thải.
Các giá thể này có diện tích bề mặt lớn để các vi sinh vật xử lý nước dính bám trong điều kiện hiếu khí. Do đó, duy trì nồng độ sinh khối cao trong bể phản ứng, giúp tăng hiệu quả xử lý sinh học và giảm thiểu diện tích đất xây dựng.
Máy thổi khí được sử dụng để cung cấp lượng oxy cần thiết cho quá trình xáo trộn giữa vi sinh vật và các chất ô nhiễm có trong nước thải. Khi đó, vi sinh vật sẽ phát triển và phân hủy các chất ô nhiễm hữu cơ thành các hợp chất vô cơ đơn giản.
Ngoài ra, để tránh tình trạng hao hụt bùn sinh học tại bể hiếu khí, quá trình bổ sung bùn được thực hiện nhờ quá trình hồi lưu bùn từ bể MBR về bể kỵ khí và bể MBBR. Bể hiếu khí cũng được bố trí bơm tuần hoàn nhằm hồi lưu nước về lại bể Anoxic, cung cấp nguồn nitrat cho quá trình khử nitơ.
MBR là viết tắt cụm từ Membrance Bio Reator (Bể lọc sinh học bằng màng) có thể hiểu công nghệ màng MBR là công nghệ xử lý vi sinh nước thải bằng phương pháp lọc màng. MBR xử lý nước thải bằng cách kết hợp quá trình xử lý sinh học thông thường với màng lọc nhằm loại bỏ chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng.
Màng lọc được sử dụng có kích thước lỗ màng nhỏ là 0.03 µm nên có thể tách các chất rắn lơ lửng, hạt keo, một số virus và các phân tử hữu cơ có kích thước lớn, độ cứng Ca, Mg… và chỉ cho nước thải đi qua, do đó sẽ giúp tiết kiệm, không cần xây bể lắng và bể khử trùng phía sau. Bùn dư từ bể MBR được đưa đến chứa bùn.
Nước sau khi lọc bởi màng MBR sẽ được đưa về bể trung gian. Tại đây, một phần nước được bơm định kỳ về màng MBR để rửa ngược giúp giảm thiểu trở lực của màng nhằm đảm bảo công suất cũng như hiệu quả xử lý của hệ thống xử lý. Phần còn lại được đưa về bể khử trùng.
Nước thải sau quá trình lọc tự chảy về bể khử trùng để tiến hành tiêu diệt Coliform và các thành phần vi sinh gây bệnh khác ra khỏi nước thải nhờ việc châm vào bể hóa chất khử trùng thông qua bơm định lượng.
Quá trình khử trùng nước xảy ra qua hai giai đoạn:
- Đầu tiên là khuếch tán chất khử trùng qua vỏ tế bào vi sinh vật;
- Sau khi xâm nhập vào tế bào, chất khử trùng sẽ phản ứng với men bên trong tế bào và phá hoại quá trình trao đổi chất dẫn đến vi sinh vật bị tiêu diệt.
Nước thải sau xử lý sẽ đạt tiêu chuẩn xả thải QCVN 28:2010/BTNMT, cột A trước khi đấu nối vào hệ thống thoát nước thải chung của khu vực.
Bùn dư từ bể MBR sẽ được đưa về bể chứa bùn. Tại đây xảy ra quá trình phân hủy bùn.
Kết quả của quá trình phân huỷ bùn:
- Tăng nồng độ chất rắn trong bùn;
- Giảm thành phần chất hữu cơ trong bùn, giúp ổn định bùn;
- Giảm thể tích bùn trước khi đưa đi xử lý.
Định kỳ, bùn trong bể chứa bùn bơm lên máy ép bùn để tiếp tục xử lý.
Máy ép bùn sẽ tiếp tục thực hiện quá trình khử nước trong bùn, giảm thể tích bùn và tăng chất rắn trong bùn đến nồng độ có thể vận chuyển được đến nơi chôn lấp. Polymer cation được thêm vào với vai trò như là chất “kết dính” nhằm đông kết các hạt bùn để quá trình nén bùn được thực hiện dễ dàng và đạt hiệu suất cao.
Quạt hút mùi:
Sử dụng quạt hút mùi nhằm hút mùi từ các bể trong HTXLNT thông qua các lỗ thông hơi giữa các ngăn trong bể. Các khí này sẽ được tập trung tại khoảng không phía trên sàn bể và được thu gom đưa về tháp khử mùi thông qua quạt hút.
Tháp hấp phụ:
Tại tháp hấp phụ: dòng khí trong tháp sẽ di chuyển từ dưới đáy tháp khử mùi phân phối ngược lên trên, khí thải được đưa qua lớp vật liệu xử lý mùi, loại bỏ khí gây mùi bằng cách hấp phụ và phản ứng hóa học. Khí được giữ lại trong viên nén, chuyển hóa thành chất rắn vô hại, loại bỏ khả năng giải hấp và giải phóng trở lại vào môi trường.

Bơm hệ màng lọc sinh học MBR

Máy thổi khí

Bồn hóa chất

Máy ép bùn
Hệ thống xử lý nước thải y tế tại Bệnh viện Đa khoa Đắk Nông sau khi hoàn thiện và đưa vào vận hành đã góp phần kiểm soát hiệu quả nguồn nước thải phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh. Với công suất 700 m³/ngày.đêm, hệ thống đảm bảo nước thải đầu ra đạt QCVN 28:2010/BTNMT, đáp ứng đầy đủ yêu cầu pháp lý về môi trường. Đây là hạng mục hạ tầng quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng vận hành bệnh viện, giảm thiểu tác động đến môi trường và hướng đến mục tiêu phát triển an toàn, bền vững trong dài hạn.